KHOA DƯỢC

      Tập thể khoa Dược tháng 8/2016

1.      Tên khoa: Khoa Dược

2.      Điện thoại:  02803751038          Email:duoctwthainguyen@gmail.com

3.      Địa điểm làm việc: Khoa dược độc lập trước nhà 15 tầng

4.      Lãnh đạo hiện nay:

DSCK1. Đặng Văn Lịch

 Trưởng khoa

Ths. Hoàng Thị Thu Hương  

Phó trưởng khoa  

DSTH. Hoàng Văn Đoán

Kỹ thuật viên trưởng 

5.   Lãnh đạo qua các nhiệm kỳ

 YT.  Trần Hương Lê

Phụ trách  Phòng 1951-1953

 DSTH. Nguyễn Văn Khang

Phụ trách  Phòng 1956 – 1958

DS. Nguyễn Xuân Thu

 Trưởng khoa 1958 - 1972

  DS. Nguyễn Đức Đường

Trưởng khoa 1972 – 1983

DS. Lê Văn Quýnh

Trưởng khoa 1983 - 2000

DSCKI. Bùi Kim Bình 

Trưởng khoa  2000 -2010

6. Cơ cấu tổ chức

6.1. Quá trình phát triển của khoa:

Năm 1951 bệnh viện được thành lập đồng thời với việc ra đời của khoa Dược khi đó gọi là “phòng Dược”. Năm 1959 các đơn vị chuyên môn của bệnh viện được gọi là Khoa, phòng Dược được đổi tên là khoa Dược.

Lúc mới thành lập, phòng Dược chịu trách nhiệm cung ứng và quản lý toàn bộ thuốc, trang thiết bị y tế và hóa chất xét nghiệm trong toàn bệnh viện. Đến năm 1978, phần trang thiết bị được chuyển về Phòng Vật tư – TTBYT cung ứng.

- 1951 – 1953: Phòng Dược gồm 3 nhân viên do y tá Trần Hương Lê phụ trách.

- 1953: y tá Trần Hương Lê được cử đi học lớp nữ hộ sinh, Dược tá Thiện được Ban lãnh đạo Bệnh viện chỉ định phụ trách phòng Dược. Do cơ sở vật chất nghèo nàn, thuốc điều trị cho bệnh nhân đơn giản nên chỉ có một quầy cấp phát thuốc do Sở y tế khu tự trị Việt Bắc cấp.

- 1956 - 1958: Phòng Dược tiếp nhận 01 DSTH Nguyễn Văn Khang, 02 dược tá, sau thời gian ngắn dược tá Thiện chuyển công tác về Hà Bắc, DSTH Nguyễn Văn Khang phụ trách phòng dược và có thêm 01 kế toán và 02 công nhân.

-1958 Bệnh viện được Cộng hòa dân chủ Đức viện trợ các trang thiết bị hoàn thiện cho một phòng pha chế gồm bàn, tủ, kính hiển vi, chai lọ, hóa chất, thuốc cần thiết cho nhu cầu điều trị, DSTH. Nguyễn Văn Khang chỉ đạo xây dựng thành các  kho chính, kho lẻ, phòng pha chế.

Tháng 6/1958, Dược sỹ đại học Nguyễn Xuân Thu (Dược sỹ đại học đầu tiên của bệnh viện)  được Bộ Y tế phân công công tác tại Bệnh viện Khu Tự trị Việt Bắc, sau 2-3 tháng làm quen với công việc, DS. Nguyễn Xuân Thu  nhận bàn giao trưởng phòng Dược từ  DSTH Nguyễn Văn Khang do Ông được điều về Hà Nội  học lên Đại học.

Giai đoạn  :1958-1965

Dược chính

Khoa Dược được giao trách nhiệm lên phương án hằng năm để xin nhà nước kinh phí  mua sắm y cụ, máy móc, thuốc sử dụng trong toàn bộ bệnh viện. Toàn bộ thuốc sử dụng trong bệnh viện và cấp phát tại phòng khám đều miễn phí, kinh phí có hạn, mặt khác các khoa có bệnh nhân đòi hỏi phải cung cấp đầy đủ và tối đa theo yêu cầu nên khoa Dược đề xuất một số biện pháp được ban lãnh đạo bệnh viện đồng ý và ủng hộ như:

-  Phân phối thuốc quý, hiếm cho từng khoa theo kế hoạch hàng tháng: huyết tương khô, các dịch truyền phải nhập như Subtosan (PVP), Dextran, kháng sinh tiêm các loại. Việc phân phối này thực hiện dưới hình thức “tem phiếu” do khoa Dược phát hành.

-  Thu hồi vỏ các thuốc kháng sinh tiêm (penicillin, streptomycin v.v.), trên nhãn thuốc đã đóng dấu riêng của khoa Dược để phòng ngừa thuốc bị thất thoát ra ngoài.

-  Quy định số tiền thuốc hàng ngày cho một giường bệnh cho từng khoa, cho một ca mổ trung, đại phẫu, một ca đẻ v.v. hằng ngày tại giao ban bệnh viện, khoa Dược công bố số tiền thực tế chi cho một giường bệnh cho từng khoa. Nếu số tiền đó vượt quá nhiều so với mức quy định, thì ban lãnh đạo bệnh viện yêu cầu khoa giải trình. Để thực hiện được công việc này, khoa Dược sử dụng 2 kế toán dược tính tiền thuốc căn cứ vào phiếu lĩnh thuốc. Công việc này duy trì cho tới năm 1965, khi Thái Nguyên bị ném bom và Bệnh viện bắt đầu đi sơ tán.

-  Khoa Dược thực hiện kiểm tra đột xuât việc tổng hợp thuốc hằng ngày để làm phiếu lĩnh thuốc.

-  Tiết kiệm thuốc kháng sinh không còn đủ điều kiện tiêm để pha chế thuốc mỡ (penicillin, streptomycin).

-  Thực hiện “duyệt phiếu lĩnh thuốc”: Tại phòng cấp phát thuốc, một dược sĩ chuyên trách có nhiệm vụ kiểm tra phiếu lĩnh thuốc (cách ghi tên thuốc,  hàm lượng, chữ ký y tá lĩnh thuốc) nếu đầy đủ thì dược tá mới phát thuốc. Công việc này được DS Nguyễn Thị Mai làm một cách kiên trì và với tinh thần trách nhiệm cao.

Quản lý y cụ, máy móc.

-  Khoa lập cho mỗi máy móc của bệnh viện một “lý lịch máy móc” trong đó ghi chép tên máy, nhãn hiệu, nước sản xuất, giá, những lần sửa chữa, tình trạng máy. Tại mỗi máy có treo một bảng “nội quy sử dụng”

-  Đối với y cụ dễ hỏng, dễ vỡ như bơm tiêm, nhiệt kế, nếu y tá làm vỡ, khi lĩnh thay thế, phải kèm theo “biên bản kiểm điểm” của người đánh hỏng, đánh vỡ, kèm theo xác nhận của trưởng khoa và biện pháp xử lý chuyên môn

Pha chế huyết thanh

Trước 1958 việc pha chế huyết thanh chỉ đạt yêu cầu tiêm bắp, chỉ pha 2 loại dung dịch NaCl 0,9% và Glucose 5%

Sau năm 1958 DS. Nguyễn Xuân Thu là người đầu tiên đưa ra qui trình pha chế huyết thanh truyền tĩnh mạch. Đã dành riêng một phòng cho pha chế huyết thanh, lọc bằng chân không (dùng ống thủy tinh nhồi bông, gạc; hoặc dùng ống Chamberland), đóng vào chai thủy tinh trung tính thu hồi từ chai đựng dịch truyền Subtosan, và tiệt trùng, nuôi thỏ để thử “chí nhiệt tố” theo quy trình Vụ Dược chính hướng dẫn. Kết quả là đã pha được huyết thanh truyền tĩnh mạch đạt yêu cầu.

Đã đa dạng hóa các dịch truyền: Glucose 20%;; dung dịch Natri citrat phục vụ việc lấy máu bệnh viện bắt đầu lấy máu và truyền máu.

Kinh phí có hạn, khoa Dược phải có trách nhiệm làm dự trù thật cân đối mới đủ cung cấp, không tồn kho nhiều để thuốc quá hạn, nhưng cũng phải có dự trữ đề phòng trường hợp đột xuất.

Thời gian này, có một số cải tiến điển hình nhất là cải tiến máy dập viên bằng tay thành máy dập viên phối hợp cả tay và chân do ông Nguyễn Văn Thành, công nhân dược đề xuất và thực hiện, tăng năng suất 300-400%, được mang đi thao diễn tại một hội nghị dược chính tổ chức hàng năm tại Hà Nội, được giới bào chế bệnh viện hoan nghênh.

Kết hợp Đông-Tây y, pha chế thuốc, Đông dược

Thực hiện chủ trương “kết hợp đông-tây y”, khoa Dược đề xuất và đã thực hiện một số việc như sau:

-   Pha chế “Toa căn bản”, một công thức dân gian của miền Nam, do BS Nguyễn Văn Hưởng, Bộ trưởng Bộ y tế phổ biến, dưới dạng thuốc pôxiô, đóng chai 100ml sẵn để phát hàng ngày cho các khoa phòng.

-   Trên tinh thần của Toa căn bản, cùng lương y Hoàng Quang Phan, xây dựng khoảng 10 “toa” bằng dược liệu thuốc nam, đóng gói trong túi giấy để phát cho bệnh nhân đến khám bệnh: lợi tiểu, thấp khớp, bổ, an thần, tiêu độc v.v.

-   Xây dựng một vườn thuốc mẫu để giới thiệu, làm cơ sở học tập cho thực tập sinh.

-   Học và thực hiện kỹ thuật làm viên hoàn bằng phương pháp “lắc thúng”. Vào cuối thời kỳ này, khoa đã được trang bị một nồi quay inox chạy bằng động cơ để thay thế thúng lắc.

-   Một số công thức đông dược có tác dụng đã được chuyển thành dạng bào chế xi-rô, rượu thuốc.

Kết luận về thời kỳ 1958-1965

Trong hoàn cảnh đất nước chia cắt, Miền Bắc tạm thời trong thời bình, mặc dù cơ sở vật chất nghèo nàn, thô sơ, khoa Dược đã thực hiện được nhiều việc cụ thể, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, góp phần đưa bệnh viện tiến lên. Những thành tích trong thời kỳ đó đã được Bộ Y tế ghi nhận, và năm 1961, tại hội nghị dược toàn miền Bắc, Bệnh viện KTTVB đã được nhận Cờ danh dự của Bộ Y tế tặng cho “đơn vị xuất sắc nhất về Dược chính”. Cũng năm đó, khoa Dược được phần thưởng khoa xuất sắc nhất về thi đua của bệnh viện KTTVB.

Giai đoạn : 1965-1970:

Tính chất của thời kỳ này

Nguy cơ Mỹ leo thang bắn phá Miền Bắc, bệnh viện phải đi sơ tán, nơi nào có bệnh nhân, nơi đó khoa Dược phải có mặt. Do bệnh viện phân tán đi nhiều nơi, nên khoa Dược phải cử nhân viên của mình đến mọi nơi để phục vụ.

Thời kỳ đầu 1965-1966, bệnh viện sơ tán chủ yếu vào xã Cúc Đường, cán bộ nhân viên ở nhờ nhà dân, phòng bệnh nhân, phòng mổ, đẻ, kho thuốc và phòng pha chế đặt trong rừng, cơ sở bằng tường tốc-si mái lá, nhưng sử dụng cửa tháo từ các nhà gạch của bệnh viện.

Năm 1966, do lệnh của UBND Khu TTVB, Bệnh viện phải nhường cơ sở chuyên môn ở trong rừng đã xây dựng tạm ổn cho một đơn vị “quân tình nguyện” Trung Quốc, và hầu như toàn bộ bệnh viện được quân Trung Quốc chở đi sơ tán tại địa điểm mới tại xóm Pò Đồn, xã Tân Tri, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Một bộ phận nhỏ ở lại Cúc Đường gần đường quốc lộ để phục vụ nhân dân và cán bộ sơ tán trong vùng đó.       

Dược chính

Công tác Dược chính thu hẹp lại, chỉ khu trú trong việc tổng hợp báo cáo hàng tháng sử dụng thuốc tại các cơ sở sơ tán, tổng hợp và báo cáo Bộ Y tế. Tuy vậy công tác mua và phân phối thuốc, y cụ, vẫn phải đảm bảo đầy đủ. Trưởng khoa phải thường xuyên đi các cơ sở có phát thuốc để kiểm tra.

Pha chế

Pha chế huyết thanh

Dù trong hoàn cảnh nào, khoa Dược vẫn phải đảm bảo cung cấp huyết thanh tiêm truyền, và tại Cúc Đường, thậm chí cả tại Tân Tri xa xôi, cũng vẫn có cơ sở pha ché huyết thanh. Công việc vô trùng thực hiện tối đa trong hoàn cảnh cho phép. Pha chế trong “lều vải” (người và phương tiện đều trong lều).

Việc cất nước để pha chế sử dụng ống máng để hứng nước từ khe núi chảy vào bếp cất nước. Bà Trần Thị Thử, dược tá, có công trong việc phát hiện nguồn nước và thực hiện cất nước, cũng như pha chế vô trùng trong hoàn cảnh rừng núi.

Vì ít bệnh nhân, khối lượng công việc không nhiều, nhưng vẫn phải sẵn sàng, khoa chủ động đặt ra tình huống cơ sở pha chế bị phá, phải pha chế lưu động. Đã xây dựng một cơ số đầy đủ lều pha chế, quần áo tiệt trùng, hóa chất, chai, dụng cụ pha chế, bàn gấp, ni-lông, nồi cất nước, thúng v.v. Tất cả do 4-5 người gánh đi tới địa điểm mới sau một ngày là đã có thể pha chế được. Đây không phải là lý thuyết, vì đã thực sự làm việc đó và đạt có kết quả, vì sau đó thuốc đã được thử “chí nhiệt tố” và được sử dụng.

Người nhiệt tình đóng góp vào việc thực hiện pha chế lưu động là bà Nguyễn Thị Long.

Khoa còn cử DS Đào Thúy Nga tới hỗ trợ Bệnh viện huyện Phú Bình xây dựng và thực hiện pha chế huyết thanh để phục vụ nhân dân và cán bộ đóng tại phía Nam tỉnh Thái Nguyên.

Pha chế các thuốc khác

Hoàn cảnh vật chất không cho phép pha chế thuốc nước uống, nhưng vẫn phải pha chế thuốc dùng ngoài da, vì điều kiện vệ sinh và môi trường kém: thuốc mỡ Penicillin, mỡ sulfamid, oxyd kẽm, lưu huỳnh, thuốc đỏ, cồn iod v.v. Thiếu hộp đựng thuốc mỡ, khoa có sáng kiến cưa những ống tre, nứa, đốt tre, nứa làm đáy của hộp, đậy bằng PE buộc bằng một khoanh xăm xe đạp.

Đông dược

Rừng là nguồn dược liệu phong phú, lúc nhàn rỗi nhân viên vào rừng để thu hái một số dược liệu về làm thuốc.

Đào tạo

Vì phải phân tán nên thiếu nhân lực, nhất là dược tá. Được phép của Sở Y tế khu TTVB, Khoa mở một lớp tại chức đào tạo dược tá. Sau 6 tháng học, 5/6 người đã thi tốt nghiệp và được Sở Y tế cấp bằng. Những dược tá tốt nghiệp đã đóng góp xứng đáng vào việc phục vụ của khoa tại các nơi sơ tán.

Cũng trong thời gian này, tổng kết kinh nghiệm pha chế theo đơn trong những năm 1958-1965, DS. Nguyễn Xuân Thu đã biên soạn một cuốn sách tựa đề “Hướng dẫn kê đơn pôxiô tại Bệnh viện” được Bệnh viện in 200 cuốn để sử dụng trong bệnh viện và biếu các bệnh viện khác.

Giai đoạn : 1970-1972

Tính chất của thời kỳ này

Johnson ném bom miền Bắc, mãi tới mùa thu 1972, Nixon mới leo thang lại ném bom. Trong thời gian một năm rưỡi tạm yên, bệnh viện không còn đi xa nữa, trở lại vùng quanh thị xã Thái Nguyên. Vì cơ sở nhà của bệnh viện bị chính bệnh viện tháo dỡ vì kèo, mái, cửa sổ v.v. để mang đi dùng làm nguyên vật liệu ở nơi sơ tán, nên không thể về đó được, mà phải đóng tại một số nơi như Trường văn công Thái Nguyên, Chùa hang.

Trường Y sĩ Việt Bắc không bị tháo dỡ, nên bệnh viện đặt kho thuốc, vật tự tại Trường, kể cả cơ sở pha chế huyết thanh, rồi toàn bộ khoa Dược cũng về đó.

Vào thời kỳ này có một sự kiện quan trọng đánh dấu một bước ngoặt của bệnh viện trên con đường hiện đại hóa. Chính phủ Thụy Điển viện trợ trang thiết bị hoàn chỉnh cho một bệnh viện, và Bộ Y tế chỉ định Bệnh viện KTTVB là cơ sở tiếp nhận viện trợ.

Dược chính

Giai đoạn này khoa Dược phải thống kê toàn bộ trang thiết bị viện trợ  Thụy Điển, tham mưu với ban lãnh đạo bệnh viện về việc phân bổ các thiết bị cho các khoa, và báo cáo Bộ Y tế về kết quả nhận viện trợ.

Pha chế

Khoa Dược được nhận một số thiết bị pha chế hiện đại: máy rửa chai huyết thanh, thùng inox dung tích 200 lit, máy lọc ép qua màng giấy lọc, đèn tia tử ngoại tiệt trùng, dụng cụ pha chế bằng inox, chai lọ, và đặc biệt nhất là các hóa chất chưa bao giờ có ở miền Bắc như CMC, PVP, Polysorbate, Benzalkonium chloride, acid sorbic, rất thuận lợi trong việc xây dựng những công thức pha chế tân tiến.

Việc pha chế huyết thanh được nâng cao về kỹ thuật và điều kiện làm việc: pha chế hoàn toàn một chiều, khử trùng bằng cực tím, lọc bằng máy lọc ép,

Khoa đã phối hợp với Khoa Tai Mũi Họng, trưởng khoa là BS Nguyễn Đình Bảng xây dựng một loạt thuốc chuyên khoa TMH, từ viên ngậm, thuốc bôi họng, nhỏ tai, nhỏ mũi, xông hơi v.v tất cả được ghi lại trong một tài liệu in rônêô để phân phát giới thiệu trong bệnh viện và biếu các khoa TMH toàn miền Bắc

Khoa cũng đã phối hợp với khoa Mắt, trưởng khoa là BS Nguyễn Huy Quang, xây dựng một loạt thuốc nhỏ mắt hiện đại (so với thời đó) và đã triển lãm toàn bộ thuốc chuyên khoa mắt do khoa Dược Bệnh viện KTTVB pha chế tại một hội nghị toàn miền Bắc tổ chức tại Viện Mắt năm 1971, được giới chuyên khoa Mắt toàn miền Bắc hoan nghênh. Đặc biệt lãnh đạo bệnh viện cho mở một phòng pha chế thuốc chuyên khoa mắt riêng, với mức độ vô trùng không kém pha chế huyết thanh.

Giai đoạn 1972 – 1983: DS. Nguyễn Xuân Thu chuyển công tác về Hà Nội, DS. Nguyễn Đức Đường – Trưởng khoa, Bệnh viện ngày một phát triển, số giường bệnh cũng tăng dần.

Năm 1978: Phòng Vật tư trang thiết bị y tế được thành lập, y cụ và máy y tế được chuyển về đó.

Năm 1977 khoa Dược trực tiếp xây dựng kế hoạch dự trù thuốc hàng quí, hàng tháng, hàng năm cho toàn viện gửi qua Vụ dược chính phê duyệt, lúc bấy giờ thuốc trên thị trường khan hiếm khoa Dược tổ chức mở rộng sản xuất thuốc đông dược, thuốc dùng ngoài, pha chế huyết thanh,

- Sản xuất thêm các loại NaCl 10%, Novocain 1%, Manitol, Natrihydrocarbonat 14%, Magnesi sulfat..., việc cất nước để pha hoàn toàn bằng bếp củi. Đến năm 1980 bắt đầu cất nước bằng bếp than.

- Sản xuất thuốc đông dược: Viên bổ cao sâm, viên hoàn Hà sa, viên Pectusin ngậm ho, viên uất kim chữa đau dạ dày, sắc thuốc cho khoa Y học cổ truyền.

Do nhu cầu sản xuất nhiều nên trong những năm 1978 – 1980  nhân viên khoa Dược có tới 60 người trong đó có 10 Dược sỹ đại học, 20 Dược sỹ trung học và kỹ thuật viên số còn lại là dược tá và y công và khoa đã phân ra các bộ phận: Phòng dược chính, phòng pha chế huyết thanh, phòng pha chế theo đơn, kho chính, kho lẻ

Giai đoạn 1983- 2000: DS. Lê Văn Quýnh  - trưởng khoa thay DS. Nguyễn Đức Đường  nghỉ chế độ, mọi hoạt động của khoa vẫn duy trì như trước

- Năm 1983 việc cung ứng thuốc do Phòng Vật tư đảm nhận

- Năm 1995 việc cung ứng thuốc giao về cho kho Dược đảm nhận

- Năm 1990 trở lại đây thuốc trên thị trường đã khá đầy đủ nên khoa Dược không sản xuất, pha chế thuốc nhiều như trước do vậy nhân lực của khoa có thay đổi, một số cán bộ chuyển công tác đến đơn vị khác, một số nghỉ chế độ, một số nghị theo thông tư 41 nên khoa Dược cho đến thời điểm này còn trên 30 người.

Giai đoạn  2000 – 2010: DS. Bùi Kim Bình – Trưởng khoa thay DS. Lê Văn Quýnh nghỉ chế độ.

- Từ năm 2000 việc cung ứng thuốc, hóa chất sinh phẩm, bông băng cồn gạc phục vụ bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú  bước đầu áp dụng hình thức đấu thầu.

- Số lượng và chủng loại thuốc đã nhiều lên so với trước và đảm bảo đủ phục vụ cho bệnh viện với trên 500 giường bệnh nội trú, khoảng 500 lượt bệnh nhân khám ngoại trú mỗi ngày.

- Năm 2003 do yêu cầu các cơ sở sản xuất thuốc phải đạt tiêu chuẩn GMP nên khoa Dược không còn pha chế huyết thanh.

- Để đảm bảo việc cung ứng đầy đù và kịp thời khoa Dược đã yêu cầu các khoa  lập dự trù  thuốc, hóa chất sinh phẩm, bông băng cồn gạc. Khoa Dược căn cứ vào việc sử dụng của năm trước và các khoa dự trù  để làm kế hoạch cho năm sau.

Năm 2010 đến nay: DS Đặng Văn Lịch – Trưởng khoa thay DS Bình nghỉ chế độ.

- Đảm bảo thuốc cho bệnh viện 750 đến 1200 giường; Biên chế thời kỳ 2010 là 27 CBVC, chưa có hoạt động dược lâm sàng

- Tháng 2 năm 2010 để phục vụ cho công tác xây dựng bệnh viện, khoa Dược phải di chuyển lên tầng 2 của khoa X- Quang với diện tích bằng ¼ nhu cầu sử dụng vì vậy việc pha chế bị thu hẹp, chỉ pha thuốc sát khuẩn; việc cung ứng cồn cũng phải mua theo tuần.

- Đồng thời với việc cung cấp đầy đủ kịp thời thuốc cho người bệnh nội, ngoại trú, khoa đã sửa sang, mở rộng nhà thuốc bệnh viện, bố trí thêm nhân lực, nhập thêm nhiều chủng loại thuốc, bố trí DS tư vấn, cung cấp thông tin thuốc bằng nhiều hình thức được người bệnh tin tưởng và rất hoan nghênh mô hình nhà thuốc của bệnh viện

- Ngay từ đầu năm 2010 Lãnh đạo khoa đã tăng cường củng cố hệ thống phần mềm và ban hành hàng loạt quy trình về sử dụng phần mềm quản lý dược,  quyết liệt thực hiện kỷ luật mạng và thường xuyên làm sạch số liệu; Việc quản lý thuốc đã được tin học hóa 100%, số liệu thống kê, báo cáo nhanh, chính xác kịp thời phục vụ công tác quản lý bệnh viện và thanh quyết toán BHYT

- Do không có quỹ phòng nên việc cất nước cũng đã ngừng hoạt động,  khoa Dược  và các khoa khác chuyển sang sử dụng nước lọc RO  thay cho nước cất.

- Với diện tích có hạn các kho được bố trí tiết kiệm nên không đủ diện tích để dự trữ thuốc, thuốc được dự trù 2 tuần một lần

- Việc cung ứng thuốc thực hiện theo  các văn bản hướng dẫn đấu thầu của BYT một cách triệt để, hàng năm khoa Dược làm thường trực cho công tác đấu thầu mua thuốc, phải chuẩn bị rất kỹ các tài liệu liên quan tới số lượng, giá thuốc kế hoạch  thông qua HĐT&ĐT trước khi bảo vệ kế hoạch này với Hội đồng thẩm định của BYT. Công việc đấu thầu đã tiêu tốn 50 đến 60% thời gian của các Dược sỹ mỗi năm

Năm 2012 việc cung ứng hóa chất sinh phẩm khoa Dược chuyển cho Phòng Vật tư đảm nhiệm do có khá nhiều hóa chất, sinh phẩm được cung cấp và sử dụng kèm theo máy

- Công tác dược lâm sàng được quan tâm và đi vào hoạt động, thời kỳ này chưa có DLS chuyên trách nên chỉ tập trung vào công tác tập huấn sử dụng thuốc, thông tin thuốc

Năm 2013-2015 khoa Dược được tuyển dụng thêm 5 dược sỹ đại học chính quy, nhân lực trẻ, có trình độ chuyên môn và ngoại ngữ khá tốt, khoa đã triển khai thêm nhiều hoạt động như:

- Sinh hoạt chuyên đề bằng tiếng anh

- Cử DS xuống khoa lâm sàng làm công tác DLS chuyên trách

- Tham gia 1816 tại các tỉnh miền núi phía bắc

- Tham dự các buổi học chuyên đề do trường Đại Học Dược Hà Nội tổ chức 

* Từ năm 2016 việc thanh toán tiền thuốc được thực hiện trực tiếp trên phần mềm kết nối giữa phần mềm của bệnh viện và phần mềm của BHXH, nên việc cập nhật thông tin, quản lý số liệu đòi hỏi khoa Dược phải đối chiếu hàng ngày, các trường dữ liệu phải cập nhật tăng lên gấp hai, ba lần so với cũ, khoa đã giao cho một DS đại học có năng lực về tin học đảm nhận việc này, bước đầu số liệu thống kê thanh toán của BHYT đã đáp ứng yêu cầu

6.2. Tình hình nhân lực hiện nay: Khoa Dược có 26  CBVC, trong đó:

-  Dược sỹ CKI: 01

- Thạc sỹ: 01

-  Dược sỹ ĐH: 06

-  Dược sỹ TH: 14

-  Kế Toán TC: 01

-  Dược Tá: 02 

-  Y công: 01

6.3. Các bộ phận của khoa:

- Nghiệp vụ dược

- Dược lâm sàng – Thông tin thuốc

- Duyệt thuốc

- Kho thuốc nội trú:

                        + Kho Chính

                        + Kho lẻ ống

                        + Kho lẻ viên

                        + Kho dịch truyền

                        + Kho trực thuốc cấp cứu

- Kho thuốc ngoại trú

- Nhà thuốc bệnh viện

7. Chức năng nhiệm vụ:

- Lập kế hoạch, cung ứng thuốc bảo đảm đủ số lượng, chất lượng cho nhu cầu điều trị và thử nghiệm lâm sàng nhằm đáp ứng yêu cầu chẩn đoán, điều trị và các yêu cầu chữa bệnh khác (phòng chống dịch bệnh, thiên tai, thảm họa).

-  Quản lý, theo dõi việc nhập thuốc, cấp phát thuốc cho nhu cầu điều trị và các nhu cầu đột xuất khác khi có yêu cầu.

-  Đầu mối tổ chức, triển khai hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị.

-  Bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc “Thực hành tốt bảo quản thuốc”.

- Tổ chức pha chế thuốc, hóa chất sát khuẩn, sử dụng trong bệnh viện.

- Thực hiện công tác dược lâm sàng, thông tin, tư vấn về sử dụng thuốc, tham gia công tác cảnh giác dược, theo dõi, báo cáo thông tin liên quan đến tác dụng không mong muốn của thuốc.

- Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyên môn về dược tại các khoa trong bệnh viện.

- Nghiên cứu khoa học và đào tạo; là cơ sở thực hành của các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học về dược.

- Phối hợp với khoa cận lâm sàng và lâm sàng theo dõi, kiểm tra, đánh giá, giám sát việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý đặc biệt là sử dụng kháng sinh và theo dõi tình hình kháng kháng sinh trong bệnh viện- - Tham gia chỉ đạo tuyến.

- Tham gia hội chẩn khi được yêu cầu.

- Tham gia theo dõi, quản lý kinh phí sử dụng thuốc.

- Quản lý hoạt động của Nhà thuốc bệnh viện theo đúng quy định.

- Thực hiện nhiệm vụ cung ứng, theo dõi, quản lý, giám sát, kiểm tra, báo cáo về vật tư y tế tiêu hao (bông, băng, cồn, gạc)



Quản lý thuốc bằng phần mềm Medisoft đảm bảo số liệu, báo cáo thống kê chính xác, công tác dự trù,

dự báo được phần mềm thông báo từng ngày, theo dõi xuất nhập  đã thay thế  sổ sách.

Một buổi sinh hoạt khoa học thường niên của khoa – Trao đổi thông tin về các thuốc nhóm Quinolon, tháng 8/2016

Kho chính


Pha chế thuốc


Quầy cấp phát thuốc vị thuốc Y học cổ truyền

 
Cấp  phát thuốc phục vụ Bệnh nhân  ngoại trú có thẻ BHYT mỗi ngày khoảng 500 đơn,

đảm bảo đủ thuốc phục vụ hai chương trình điều trị ngoại trú cho gần 2.000 bệnh nhân tiểu đường và gần 1.500 bệnh nhân tăng huyết áp.
 
 
Nhà thuốc bệnh viện đạt tiêu chuẩn GPP, phục vụ bệnh nhân 24h/ngày, thực hiện tốt thông tư 15/BYT

Tờ rơi, hướng dẫn sử dụng thuốc cho bệnh nhân tại khoa lâm sàng 

Sinh hoạt khoa học tại khoa bằng Tiếng Anh


Tổ Dược lâm sàng bình bệnh án tại khoa


Dược sỹ lâm sàng trao đổi các bác sỹ tại khoa lâm sàng

  
Dược sỹ lâm sàng chuyên trách  làm việc tại khoa lâm sàng

Thông tin thuốc tại bệnh viện cho BS,DS,ĐD đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và cập nhật thông
 

Tổ tự kiểm tra khoa

8.Thành tích nổi bật:

Từ năm 2010 đến nay khoa Dược đã liên tục đạt các thành tích như sau:

- Chi bộ 5 năm liên tục tục đạt “Chi bộ trong sạch vững mạnh”

- Tổ Công đoàn  khoa 5 năm liên tục đạt danh hiệu Tổ Công đoàn vững mạnh xuất sắc

-  Chính quyền khoa 5 năm liên tục được Bộ Y tế và Bệnh viện khen thưởng danh hiệu “tập thể lao động xuất sắc”

- Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Y tế:

+ Năm 2010:  Quyết định số: 1084/QĐ-BYT ngày 15/4/2011

+ Năm 2013:  Quyết định số: 1210/QĐ-BYT ngày 11/4/2014

-Tập thể lao động xuất sắc:

+ 2010: Quyết định số: 1884/QĐ-BYT ngày 16/6/2011

+ 2011: Quyết định số: 1423/QĐ-BYT ngày 2/5/2012

+ 2012: Quyết định số: 954/QĐ-BYT ngày 25/3/2013

+ 2013: Quyết định số: 1374/QĐ-BYT ngày 22/4/2014

+ 2014: Quyết định số: 1206/QĐ-BYT ngày 3/4/2015

+ 2015: Quyết định số: 686/QĐ-BYT ngày 29/2/2016

9. Phương hướng phát triển của khoa

9.1. Công tác cung ứng, quản lý thuốc

- Ứng dụng phần mềm quản lý dược tổng thể kết nối toàn viện, đào tạo nhân lực là dược sĩ có đủ trình độ, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin đảm bảo số liệu quản lý thuốc chính xác đáp ứng yêu cầu thanh toán BHYT online theo lộ trình.

- Nhà thuốc bệnh viện cải tiến quản lý, mở rộng quầy và tăng cường nhân lực để đáp ứng nhu cầu phục vụ người bệnh 1300 đến 1500 lượt người khám một ngày.

- Trang bị phòng pha chế mới đảm bảo vô trùng để pha chế được các dung dịch vô khuẩn cho chuyên khoa nhi, mắt, tai mũi họng, ung bướu.

-Triển khai thực hiện việc ra lẻ thuốc cho từng người bệnh tại khoa Dược.

- Cải tạo, nâng cấp hệ thống kho đạt tiêu chuẩn GSP vào năm 2018 đảm bảo đủ dự trữ và cung cấp thuốc cho bệnh viện 1200 đến 1500 giường, hàng năm trên 2000 danh mục với giá trị trên 100 tỷ đồng.

9.2. Dược lâm sàng – Thông tin thuốc

a) Dược lâm sàng:

- Khoa bố trí Dược sỹ chuyên trách về DLS làm việc tại các khoa lâm sàng, Dược sỹ lâm sàng chịu trách nhiệm tham gia hội chẩn với các bác sỹ lâm sàng, tư vấn sử dụng thuốc cho bác sỹ, điều dưỡng, giám sát sử dụng thuốc, tổng hợp báo cáo tình hình kháng thuốc, ADR hàng tuần.  

- Tổng hợp số liệu sử dụng thuốc để phân tích ABC/VEN thông qua phần mềm Medisoft: Phối hợp với Phòng Công nghệ thông tin mở cửa sổ sẵn có trên phần mềm Medisoft để khoa Dược cập nhật đầy đủ thông tin của thuốc vào phục vụ cho phân tích ABC/VEN từng tháng, quý, năm nhằm cung cấp đầy đủ số liệu sử dụng thuốc cho Ban Giám Đốc làm cơ sở cho hạch toán bệnh viện và nâng cao chất lượng điều trị

b) Thông tin thuốc:  Tổ chức tập huấn sử dụng thuốc an toàn hợp lý cho Bác sỹ, Điều dưỡng 2 lần/năm vào quý 1 và quý 3.

- Tổ chức thông tin thuốc bằng hình thức bản tin thông tin thuốc 1 quý/lần

- Báo cáo chuyên đề tại khoa Dược mỗi tháng 1 lần, tại bệnh viện theo kế hoạch của Trung tâm Đào taọ - Chỉ đạo tuyến.

- Tổ chức tập huấn các Quy chế chuyên môn, hướng dẫn sử dụng thuốc cho Bác sỹ, Điều dưỡng một lần trong năm .

- Kết hợp với khoa Vi sinh, Kiểm soát nhiễm khuẩn thực hiện giám sát sử dụng kháng sinh, báo cáo kịp thời tình trạng kháng thuốc trong bệnh viện.

- Cử Dược sỹ đi đào tạo chuyên sâu về dược lâm sàng, năm 2018 có một dược sỹ Chuyên khoa II, năm 2020 có một Tiến sỹ về dược lâm sàng.