Phẫu thuật nội soi cổ tay là một kỹ thuật ra đời muộn hơn nhiều so với nội soi khớp háng, khớp gối hay khớp vai, mặc dù Watanabe (bác sĩ chỉnh hình người Nhật Bản, được xem là “cha đẻ của phẫu thuật nội soi khớp”) đã thực hiện phẫuthuật thăm dò nội soi cổ tay đầu tiên từ đầu những năm 1970. Phải hơn 10 năm sau, phẫu thuật nội soi cổ tay mới được ứng dụng cho mục đích chẩn đoán và phải hơn 20 năm tiếp theo khi các phương pháp điều trị khả thi và bước đầu thu được các kết quả khả quan, kỹ thuật này mới dần được triển khai và phát triển.

ThS.BS Nguyễn Thế Anh, bác sĩ khoa Chấn thương chỉnh hình của Bệnh viện cùng ekip phẫu thuật

Phẫu thuật nội soi chẩn đoán bệnh lý khớp cổ tay được Terry L. Whipple (bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình người Mỹ, được xem là một trong những người đặt nền móng và phát triển mạnh phẫu thuật nội soi khớp cổ tay trên thế giới) thực hiện từ năm 1985. Vào thời điểm đó, các ống nội soi chưa phù hợp với kích thước nhỏ của khớp cổ tay. Nhiều bác sĩ đã từ bỏ phương tiện này để chuyển sang chụp cắt lớp vi tính có bơm thuốc cản quang khớp và cộng hưởng từ trong chẩn đoán các tổn thương cổ tay. Tuy nhiên, những hạn chế của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh này, cùng với sự ra đời của các ống nội soi có kích thước nhỏ hơn dành riêng cho khớp cổ tay, đã nhanh chóng làm sống lại mối quan tâm đối với nội soi cổ tay. Từ đó, phẫu thuật nội soi cổ tay đã vượt ra ngoài vai trò đơn thuần là một công cụ chẩn đoán.

Nang hoạt dịch là khối u lành tính thường gặp nhất ở chi trên. Nang chứa dịch nhầy (mucin), hình thành do thoát vị màng hoạt dịch, thoái hóa nhầy, và/hoặc chấn thương. Mặt mu cổ tay là vị trí thường gặp nhất, nơi nang thường xuất phát từ khớp thuyền - nguyệt. Tỷ lệ mắc nang hoạt dịch ở cổ tay và bàn tay hằng năm vào khoảng 34 trường hợp trên 100.000 dân, trong đó nữ giới mắc bệnh gấp đôi nam giới.

Khoảng 40% nang hoạt dịch có thể tự thoái triển khi điều trị bảo tồn. Các nang tồn tại dai dẳng có thể được điều trị bằng chọc hút, tuy nhiên tỷ lệ tái phát được ghi nhận lên tới 70%. Việc tiêm corticosteroid phối hợp không cho thấy hiệu quả cải thiện kết quả điều trị. Do đó, cắt nang bằng phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị triệt để nhất đối với nang hoạt dịch cổ tay.

Trong lịch sử, cắt nang bằng phẫu thuật mở có liên quan đến tỷ lệ tái phát lên tới 40%. Các nghiên cứu sau đó đã chứng minh tầm quan trọng của việc xác định rõ và cắt bỏ hoàn toàn cuống nang cũng như các điểm bám sâu, yếu tố này có liên quan đến giảm tỷ lệ tái phát và giảm tần suất phẫu thuật. Tỷ lệ tái phát và biến chứng sau mổ của phương pháp phẫu thuật mở, như tổn thương mạch máu, thần kinh, cứng cổ tay khi gấp và sẹo xấu cũng đã được ghi nhận rõ ràng

Trong những năm gần đây, cắt nang hoạt dịch cổ tay bằng phẫu thuật nội soi ngày càng được ưa chuộng nhờ tỷ lệ tái phát thấp và kết quả thẩm mỹ vượt trội. Phẫu thuật nội soi cho thấy thời gian hồi phục ngắn hơn, tầm vận động cải thiện, ít biến chứng hơn và mức độ hài lòng của người bệnh cao hơn. Cắt nang bằng phẫu thuật nội soi là một kỹ thuật đơn giản, xâm lấn tối thiểu, có tỷ lệ tái phát tương đương phẫu thuật mở nhưng không kèm theo các biến chứng thường gặp của phương pháp mổ mở.

Phẫu thuật nội soi khớp cổ tay là một kỹ thuật ngoại khoa hiện đại, ít xâm lấn, được sử dụng để chẩn đoán và điều trị các bệnh lý của khớp cổ tay. Bác sĩ sẽ đưa một ống nội soi nhỏ có gắn camera vào khớp thông qua các đường rạch rất nhỏ trên da, giúp quan sát rõ cấu trúc bên trong khớp. Phương pháp này còn được áp dụng trong các trường hợp như tổn thương dây chằng, rách sụn tam giác (TFCC), viêm khớp hoặc đau cổ tay kéo dài không rõ nguyên nhân... So với phẫu thuật mổ mở, phẫu thuật nội soi khớp cổ tay có nhiều ưu điểm như ít đau, ít tổn thương mô mềm, giảm nguy cơ biến chứng và thời gian hồi phục nhanh hơn.

ThS.Bs Nguyễn Thế Anh - Khoa Chấn thương chỉnh hình